Chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20 - 11

KÝ ỨC MỘT THỜI

 

KÝ ỨC MỘT THỜI

“Hiện thực là bờ bên này; lý tưởng là bờ bên kia, ở giữa là dòng sông cuồn cuộn chảy, hành động là chiếc cầu bắc ngang sông”.

Kleiloyev (Nga)

 

Kính tặng những thầy, cô giáo đầu tiên đến dạy học ở trường THPT An Lão thân thương.

  1. Những người thầy năm xưa

Ngày đầu tiên đến với miền quê An Lão; vừa bước chân xuống chiếc xe đò cũ kỹ chạy tuyến Bồng Sơn – An Lão, tôi bắt gặp ngay trước  mắt một dòng sông - tuy không lớn nhưng nước chảy khá xiết; bên tay phải, tay trái là những dãy núi như chạy dài vô tận. Một vùng đất xa lạ làm bàn chân tôi khựng lại, lòng chùng xuống; bao nhiêu cảm xúc, hoài bão của tuổi trẻ giờ đay nghe nguội lạnh; lòng trống vắng, bước chân ngập ngừng trên con đường đá lởm chởm, gồ ghề. Quay lại ư! là trở về với quê hương, nơi từ đó mình lặn lội tới đây; nơi mình ra đi mang theo biết bao nhiêu hoài bão, ước mơ của tuổi trẻ. 

  

Một phút trôi qua cái cảm giác ấy - rồi tự nhủ lòng: sao mềm yếu thế! Bởi, có biết bao người đi trước, đã vượt qua được dòng sông kia; và hãy nghĩ: bờ bên kia là ngày mai, là tương lai, là cuộc đời. Cuối cùng, đôi chân cũng đưa tôi đến với ngôi trường cấp III An Lão, nằm trên một ngọn đồi hoang vắng; một ngôi trường mà chỉ có năm phòng học với một khu tập thể dành cho giáo viên (là tôi đoán thế). Hôm đó là ngày chủ nhật nên ngôi trường vắng lắm; không một bóng người. Có lẽ không có ai đi nhận công tác mà như tôi cả; sau khi ăn qua quýt một bát phở ở cái quán trước trường, tôi chọn một phòng học (cửa không khóa) và nằm lên một chiếc bàn và…ngủ.

 

Lúc giật mình thức dậy, thấy trời đã tối mịt mù và nghe có tiếng xe máy rè rè chạy vào trường, tôi đoán có lẽ thầy giáo nào đó về lại trường sau khi nghỉ ngày chủ nhật; tôi mạnh dạn, chủ động tìm tới nơi có giọng nói của hai người và tôi tự giới thiệu mình mới tới nhận công tác. Họ niềm nở mời tôi vào một căn phòng chật hẹp; dưới ánh sáng tù mù của ngọn đèn dầu. Người tới trước tự giới thiệu về mình: Thầy dạy văn, có dáng người cao, da trắng (Thầy Võ Ngọc Hà); còn thầy thấp, có nước da bánh mật dạy môn vật lý (Thầy Nguyễn Tấn Tỉnh). Tuy mới gặp lần đầu nhưng tôi vẫn cảm nhận được sự thân thiện, trìu mến mà hai thầy dành cho tôi như những người bạn xa cách lâu ngày gặp lại; rồi hai thầy giới thiệu sơ qua về ngôi trường, thầy cô, học sinh cho tôi nghe. Bấy giờ, tâm trạng của tôi đã bớt hoang mang. Đêm đó là đêm đầu tiên tôi ngủ trên mảnh đất An Lão xa lạ nhưng giấc ngủ rất ngon và sáng đó tôi đã sẵn sàng nhận nhiệm vụ.

          Theo sự chỉ dẫn của thầy Võ Ngọc Hà, tôi tìm gặp thầy Lê Văn Phước, là người phụ trách chuyên môn của trường (lúc đó trường chưa có hiệu trưởng); tôi cảm nhận được một điều về một người đi trước; thầy Phước lớn tuổi hơn chúng tôi và có phong cách chững chạc, cẩn thận; có dáng vẻ bề ngoài giản dị, dễ gần gũi, thầy có giọng nói nhẹ nhàng và luôn kèm theo nụ cười hiền hậu. Sau một hồi hỏi han hoàn cảnh riêng tư, thầy dẫn tôi đi đến từng phòng học, nơi ăn chốn ở của giáo viên; rồi thầy giao nhiệm vụ giảng dạy và chủ nhiệm (tôi được phân công chủ nhiệm lớp 10 – khóa thứ III). Trường lúc đó chỉ có bốn lớp, hai lớp 12, một lớp 11, một lớp 10. Tôi nhanh chóng nắm bắt tình hình thực tế của trường và bắt tay ngay vào công việc được giao một cách khá hồ hởi. Ngày đầu tiên chính thức bước lên bục giảng tôi được các em học sinh vỗ tay đón nhận một cách chân tình, thân thiện; cho nên bài giảng đầu tiên mặc dù giáo án soạn sơ sài nhưng tôi rất tự tin nên bài dạy rất thành công (ít nhất cũng thành công trong tư tưởng).

          Người thầy thứ tư tôi biết được là một thầy giáo có vóc người nhỏ nhắn dáng vẻ thư sinh, nước da trắng, có giọng nói miền Bắc nhẹ nhàng; sau này tôi mới biết thầy có nhiều tài vặt rất đáng nể như giỏi bóng bàn, cờ tướng, bóng đá…đó là thầy Nguyễn Hồng Bình, dạy môn toán rất hay; thầy đến từ Quy Nhơn. Rồi thầy Nguyễn Tiết từ Phù Cát là một thầy giáo dạy toán rất cẩn thận, công việc rất chu toàn. Tôi được phân công ở cùng phòng với một thầy giáo trẻ đến từ Tuy Phước, đó là thầy Nguyễn Huy Hoàng (còn gọi là Hoàng bột vì có nước da trắng như bột). Hoàng ít tuổi hơn cả nên là em út trong nhà, Hoàng được phân công dạy môn hóa từ lớp 10 tới lớp 12. Rồi cô Hồng dạy môn thể dục hay giận dỗi, dễ khóc nhưng tính tình thật thà như đếm; thầy Nguyễn Văn Thông dạy toán quê Tam Quan chất phác như một nông dân thực thụ, cô Thu quê Phù Mỹ xinh xắn, dễ thương, giọng nói ngọt ngào, dạy văn đọc thơ hay.

Đó là năm 1987, thời điểm mà đất nước còn đang trong thời kỳ bao cấp; đời sống cán bộ công chức vô cùng khó khăn. Tập thể giáo viên chúng tôi, ngày ăn hai bữa bếp ăn tập thể, canh “toàn quốc”, “nước mắm đại dương” buổi sáng nhịn đói; với lại có một món mà tôi nghĩ là độc nhất vô nhị đấy: Là mít (luộc, trộn, xào…thay phiên nhau); thế nhưng tình cảm anh em rất chan hòa, khu tập thể luôn vọng tiếng cười, buổi tối không đèn điện, cứ ra ngồi trước sân nhà ngắm trăng sao rồi nói chuyện trên trời dưới biển. cuộc sống sao mà giản dị quá, đáng yêu quá (không bon chen, không vụ lợi, không đố kị…); đúng như một câu danh ngôn “hạnh phúc không thể đong đếm, hay so sánh được mà hạnh phúc chỉ đến với những ai cảm nhận được nó”.

          Bước sang năm học 1988-1989 trường lại nhận được thêm nhiều giáo viên mới cũng đến từ mọi miền khác nhau; cô Nguyễn Thị Kim Thanh quê Phù Mỹ dáng người nhỏ nhắn, hay nói hay cười, xởi lởi dễ gần, nấu ăn rất ngon; đúng với phong cách của một cô giáo dạy văn. Thầy Lê Ngọc Hoàng từ Hoài Nhơn dạy môn vật lý thích đùa giỡn và nói chuyện tiếu lâm; thầy Lê Văn Trung dạy môn Lịch sử, vóc người nhỏ bé nhưng khỏe mạnh và nhanh nhẹn, cô Kiều Vân dạy môn sinh vật. thế là cái “Đại gia đình” nhỏ bé ấy bây giờ có thêm nhiều thành viên mới; thêm nhiều nụ cười mỗi ngày. Mỗi người một tính cách khác nhau, một hoàn cảnh khác nhau, một quê hương khác nhau; nhưng có chung một  ngọn lửa đam mê cháy bùng trong trái tim của tuổi trẻ; lạc quan yêu đời gắn bó thân thiết như anh em ruột thịt; mặc dù nghèo đói vẫn hiện hữu từng bữa ăn, trong từng giấc ngủ. Họ là những người đầu tiên đi khai phá vùng đất hoang sơ, xây từng viên gạch hồng cho những lâu đài tri thức; họ là những người mở đường cho những tâm hồn khao khát tri thức loài người; họ âm thầm lặng lẽ cống hiến tuổi trẻ của mình cho vùng đất còn hoang sơ này. đúng như Các Mác dạy con gái:

Con hãy lấy trường học làm bãi chiến trường;

          Lấy giấy bút làm vũ khí;

          Và lấy sự ngu dốt làm kẻ thù”.

 

  1. Những người mẹ và đàn học sinh thân yêu

          Cũng là người mẹ nhưng mỗi miền có một cách gọi khác nhau; người miền Nam và Nam Trung bộ thì gọi má; Bắc Trung bộ thì gọi mự; miền Bắc thì gọi mẹ, bầm, u, bu… cách gọi nào cũng nghe thân thương trìu mến. Ngày tôi ra đi, mẹ tôi tiễn chân và dặn dò: “con vào trong đó không còn mẹ ở bên cạnh nhưng chắc có nhiều bà mẹ khác sẽ giúp đỡ con khi trái gió trở trời”. Thú thực khi mới bước chân vào mảnh đất này, tôi không khỏi băn khoăn, hoài nghi  không biết học sinh và người dân ở đây có thiện cảm với những người thầy giáo chúng tôi không? Dần dần chúng tôi nhận thấy rằng nhân dân và học sinh ở đây rất dễ gần gũi, các buổi chiều rảnh rỗi chúng tôi thường đến nhà các em học sinh chơi, thăm hỏi gia đình và chúng tôi được tiếp đón nồng hậu với tình cảm ấm áp của những bà mẹ, ông bố dành cho chúng tôi. Họ là những người mộc mạc, chân chất, giản dị, hiếu khách, tình cảm thì chứa chan.

 Có lẽ cái tết đầu tiên khi tôi về quê đã ghi lại trong tôi một kỷ niệm đẹp, một dấu ấn khó phai trong đời làm thầy. Bởi vì, mỗi lần nghĩ đến nó, mắt tôi lại cay cay; không cao lương, mỹ vị, không câu từ kiểu cách; là một món quà - quà tết của một phụ huynh từ Hoài Ân đem tặng: gồm ba trái dừa khô, ba trái bưởi, nhiều cục đường bánh. Món quà có khối lượng rất nặng và giá trị không lớn nhưng ở đó chứa đựng bao nhiêu ân tình, bao nhiêu sự kỳ vọng, để tôi thầm xúc động và trân trọng; chắc có lẽ theo tôi suốt cuộc đời; vì nó đẹp đẽ, sáng ngần như dòng sông quê chảy dài theo năm tháng không bao giờ vơi cạn. Rồi nhiều, nhiều nữa những tình cảm có thật, cụ thể mà các em học sinh dành cho chúng tôi, không kể hết được. Trong thật nhiều người, tôi cũng muốn nói về một người Mẹ - một bà Bu. Nhà Bu ở gần trường; Bu quê ở miền Bắc nhưng lấy chồng trong này; chúng tôi thường đến nhà Bu chơi. Bu coi chúng tôi như con cái trong nhà; có cái gì ăn từ củ khoai, củ sắn, miếng cơm, bát cháo Bu đều dành cho chúng tôi; thực lòng chúng tôi coi Bu như người mẹ thứ hai của mình; nhà Bu tuy nghèo nhưng tình cảm của Bu thì chan chứa sâu đậm vô cùng.

Chúng tôi mãi mãi ghi nhớ những kỷ niệm nơi mảnh đất này; chúng tôi cám ơn các bà mẹ; những ông bố; những em học sinh đã dành cho chúng tôi những tình cảm trìu mến, thân thương; giúp chúng tôi vượt qua những chặng đường gian khó để hoàn thành nhiệm vụ của mình. Có lẽ mảnh đất An Lão này cũng mãi mãi ghi dấu những bước chân thầm lặng của những người thầy, người cô đã hy sinh tuổi thanh xuân của mình vì những thế hệ học sinh thân yêu.

Có vinh quang nào mà không đánh đổi những mất mát, đau thương. Có những người thầy giờ đây đã nằm trong lòng đất Mẹ yên nghỉ vĩnh hằng, và nhiều người vẫn còn đó; vẫn lặng lẽ bước tiếp con đường gập ghềnh, vẫn âm thầm hy sinh quãng đời còn lại cho mảnh đất này; tóc đã bạc, vầng trán đã nhăn nhưng trái tim vẫn vẫn đập rộn ràng và tâm hồn vẫn hát khúc hoan ca, khúc hát những người đi mở lối.

“Tôi đã là con của vạn nhà,

  Là em của vạn kiếp phôi pha,

  Là anh của vạn đầu em nhỏ,

  Không áo cơm cù bất cù bơ”.

                   (Tố Hữu)

                                                An Lão, ngày 21 tháng 5 năm 2015

                                                            Lê Tài Hoàn

{{Lang.related_posts}}

{{Lang.comments}} Facebook

Lên đầu trang